Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Đau lưng khi mang thai

0 nhận xét
Chị em bị đau lưng khi mang thai không nên chịu đựng, mà hãy làm theo một số mẹo sau đây để giảm các triệu chứng khó chịu do đau lưng gây ra.

Đau lưng khi mang thai là một hiện tượng khá phổ biến, không có gì lạ. Giai đoạn này, bạn đang tăng cân, cơ thể bạn đang thay đổi rất nhiều từ hình dáng bên ngoài tới nội tiết tố bên trong, những dây chằng nằm ở khung xương chậu của bạn đang dần được giãn ra qua thời gian em bé lớn lên trong bụng mẹ.

Tuy nhiên, bên cạnh việc kêu la, cắn răng chịu đựng, bạn hoàn toàn có thể giảm bớt thậm chí “đánh bay” được hiện tượng này nếu thực hiện đúng theo các lời khuyên dưới đây

1. Luyện tập tư thế:

Khi em bé của bạn phát triển, trọng lực của cơ thể bạn di chuyển về phía trước, mọi cơ, dây chằng trong cơ thể bạn bị kéo giãn ra và gây áp lực khiến lưng bạn bị đau. Để tránh tình trạng này, bạn cần phải giữ đúng tư thế cho mình trong mọi hoạt động.

Có những thói quen xấu như đi thõng vai xuống, ngồi quá lâu trước màn hình tivi hay máy tính... đều có thể là nguyên nhân khiến bạn càng dễ bị đau lưng hơn.

Đứng thẳng, ngồi ở tư thế đúng có thể giúp những cơn đau lưng được giảm đáng kể, bạn cần để vai thoải mái, thư giãn.

Đau lưng khi mang thai

Mặc áo nịt ngực đúng kích cỡ, không chật quá, không rộng quá.

Khi đứng, bạn cần đứng trên một vị trí chắc chắn, với một tư thế thoải mái nhất có thể. Nếu bạn phải đứng trong thời gian dài, bạn hãy cố gắng thay đổi tư thế liên tục để chân và lưng không bị mỏi.

2. Tắm nước ấm giúp giảm đau lưng khi mang thai:

Tắm nước ấm, chườm khăn nóng hoặc sử dụng các tia nước ấm của vòi hoa sen xịt vào những vùng bị đau cũng là cách giúp bạn giảm bớt cơn đau.

3. Không nên đi giày cao gót

Giày cao gót ảnh hưởng tới tư thế đi đứng của bàn chân. Toàn bộ trọng lượng cơ thể sẽ dồn vào các đầu ngón chân, điều này ảnh hưởng đến các dây thần kinh bên hông.

Thai nhi càng phát triển lớn, các dây thần kinh sẽ càng chịu áp lực mạnh hơn, dẫn đến những cơn đau lưng khủng khiếp ở lưng. Vì vậy, nếu bạn đang mang thai, bạn hãy hạn chế đi giày cao gót, những chiếc dép quai hậu hoặc giày đế thấp là một sự lựa chọn tốt hơn cả cho bạn vào lúc này.

4. Tập luyện các bài tập tăng cường sức mạnh và độ bền

Những bài tập trên sàn dành cho vùng xương chậu và vùng bụng dưới sẽ giúp bạn hạn chế được các cơn đau lưng khi mang thai. Để việc luyện tập được an toàn và dễ dàng, bạn cần tham khảo sự tư vấn và làm theo hướng dẫn của bác sĩ sản khoa. Chú ý thư giãn các cơ thật chậm sau khi việc luyện tập kết thúc.

5. Tránh cầm, vác vật nặng làm hạn chế đau lưng khi mang thai

Khi mang thai, cơ thể mẹ bầu phải gánh chịu rất nhiều áp lực vì em bé trong bụng đang phát triển dẫn đến sự thay đổi về trọng lượng cơ thể. Điều này khiến mẹ bầu rất dễ bị đau lưng. Do đó, trong suốt thai kì, mẹ bầu nên tránh những việc nặng, mang vác những vật cồng kềnh, nặng… vì chúng có thể dồn áp lực lên lưng.

6. Sử dụng đai đeo bụng

Để hỗ trợ việc nâng đỡ cho chiếc bụng to quá khổ của mình, bạn có thể sử dụng đai đeo bụng loại dùng cho những người đang mang thai.

Với 6 mẹo mà chúng tôi giới thiệu trên đây, chắc chắn chị em sẽ không phải chịu đựng những cơn đau lưng khi mang thai hành hạ.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Bệnh xương khớp thường gặp ở phụ nữ mang thai và sau sinh

0 nhận xét
Phụ nữ mang thai cần thường xuyên tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D Quá trình thai nghén ảnh hưởng đến tiến triển của một số bệnh khớp như làm nặng thêm một số bệnh, mặt khác làm nhẹ đi một số bệnh như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến. Nhiều trường hợp không được chẩn đoán và điều trị đúng đã ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cả mẹ và con.
Đau vùng thắt lưng - khung chậu

Những biến đổi về tư thế liên quan đến quá trình mang thai (cột sống đoạn thắt lưng và đoạn cổ ưỡn ra trước, đoạn ngực và cùng cụt cong ra sau nhiều hơn so với trước khi mang thai) là nguyên nhân quan trọng gây đau lưng. Mặt khác, dưới tác dụng của hormone khi mang thai, các khớp, dây chằng mềm và giãn ra nhất là vùng chậu hông, khớp mu, khớp cùng - chậu và cùng cụt làm cho khung chậu dễ thay đổi và tăng độ rộng giúp mang thai và cuộc đẻ được dễ dàng.

Biểu hiện: Gần nửa trường hợp có đau thắt lưng trong khi mang thai nhất là 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Đau thường khu trú ở vùng thắt lưng và khớp cùng chậu, ít hoặc không lan, tăng khi vận động và sờ nắn tại chỗ, giảm khi nghỉ ngơi.

Điều trị: Dùng thuốc chống đau nhóm acetaminophen (paracetamol) và vật lý trị liệu là lựa chọn hàng đầu.

Sau khi sinh, nhất là sinh thai to, chuyển dạ kéo dài có thể gây đau nhiều vùng cùng chậu, không đi lại được. Nặng hơn nữa là viêm khớp cùng chậu nhiễm khuẩn (sốt cao, đau nhiều, gầy sút) cần phải điều trị bằng kháng sinh. Lưu ý có nhiều loại kháng sinh không được dùng vì tiết qua sữa ảnh hưởng đến con. Nhóm bêta lactamin vàcephalosporin là kháng sinh nên lựa chọn.

Viêm điểm bám tận của gân vào đầu xương và viêm bao gân

Với chi trên ở các vị trí bám tận của gân vào đầu xương hay bị viêm là viêm mỏm châm quay, mỏm châm trụ, lồi cầu ngoài và trong cánh tay. Với chi dưới là viêm điểm bám tận khối cơ dạng đùi (mấu chuyển lớn) và cơ khép đùi (mấu động nhỏ), gân Achille ở gót chân. Trong đó viêm bao gân vùng mỏm châm quay (hội chứng De Quervain) là hay gặp hơn cả.

Nguyên nhân gây bệnh là do vùng mỏm châm xương quay có một bao hoạt dịch bọc chung hai gân của cơ dài dạng và ngắn duỗi ngón tay cái. Khi bao này bị viêm sẽ gây đau và hạn chế vận động ngón cái. Đây là bệnh gặp nhiều nhất trong thời kỳ này, nhất là ở phụ nữ phải làm việc nhiều bằng tay và các động tác xoắn vặn cổ tay (giặt, vắt quần áo...).

Biểu hiện: Bệnh nhân thấy sưng và đau bờ ngoài của mỏm châm xương quay, đau tăng lên khi phải sử dụng ngón tay cái và đau liên tục nhất là về đêm. Khám có thể thấy vùng này hơi sưng nề, ấn vào đau. Khi làm một số động tác thì đau tăng: bệnh nhân duỗi và dạng hết sức ngón tay cái mà thầy thuốc chống đối lại, hoặc bảo bệnh nhân để ngón tay cái vào gốc ngón út, ta đẩy bàn tay khép vào hết sức thì sẽ gây một cảm giác đau nhói.

Để phòng bệnh, cần tránh các động tác xoắn vặn quá mức cổ tay và ngón tay như kể trên. Các thuốc chống đau nhóm acetaminophen và vật lý trị liệu (tia hồng ngoại) đem lại hiệu quả trong một số trường hợp. Nếu không đỡ phải đi khám bác sĩ chuyên khoa để có chỉ định điều trị cụ thể.

Cơn tétani do hạ canxi máu

Trong quá trình mang thai và cho con bú, một lượng lớn canxi được lấy từ người mẹ sang thai nhi để phát triển hệ thống xương của thai nhi. Quá trình này làm cho nồng độ canxi máu của người mẹ giảm, đặc biệt ở những người mẹ có chế độ ăn không đầy đủ canxi theo nhu cầu (1.500 mg/ngày) hay những người bị bệnh đường tiêu hóa mạn tính làm giảm hấp thu canxi ở ruột. Những người nghén nhiều như nôn nhiều làm mất nước, điện giải và tình trạng kiềm hóa kèm theo tình trạng lo lắng, tạo điều kiện cho cơn tétani xuất hiện.

Triệu chứng: Cơn tétani là một tình trạng kích thích quá mức của hệ thống thần kinh - cơ, dấu hiệu báo trước hoặc đi kèm là hiện tượng dị cảm, nặng nề ở tay, chân, vùng quanh miệng. Tiếp theo là tình trạng co cơ đột ngột, nhất là ở bàn tay và ngón tay tạo nên hình ảnh như bàn tay người đỡ đẻ. Tình trạng co cơ có thể biểu hiện ở các vị trí khác như ở chân hay ở mặt. Một số trường hợp có kèm với co thắt cơ trơn gây nên tình trạng khó thở do co thắt khí quản hay đau bụng do co thắt cơ trơn ở ruột... Tình trạng co cơ kéo dài từ vài phút đến vài giờ. Có thể có tình trạng lo lắng, hoảng hốt, mạch nhanh... Thăm khám giữa các cơn tétani có thể phát hiện được tình trạng co cơ vùng má khi gõ bằng búa phản xạ vùng trước lỗ tai (dấu hiệu Chvostek) hay cơn tétani tái xuất hiện khi yêu cầu bệnh nhân thở nhanh (gây tình trạng kiềm hóa máu do tăng thông khí). Xét nghiệm máu trong cơn sẽ thấy canxi máu giảm nhưng đôi khi có những trường hợp canxi máu không giảm.

Dự phòng và điều trị: Phải bổ sung canxi (1.000-1.500 mg/ngày) và vitamin D bằng các thức ăn giàu canxi (cua, cá, thịt...), phơi nắng để tăng tổng hợp vitamin D từ da. Các triệu chứng của cơn tétani sẽ hết đi nhanh nếu được tiêm tĩnh mạch dung dịch canxi (thường dùng 500-1.000mg dung dịch canxi clorua).

Để giữ gìn sức khỏe tốt cho cả mẹ và con, các sản phụ không nên tự ý sử dụng thuốc điều trị các chứng bệnh xương khớp trong thời kỳ thai nghén và cho con bú. Khi dùng thuốc phải có sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa để tránh những hậu quả không mong muốn cho cả mẹ và con.

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Đông y trị đau nhức xương khớp

0 nhận xét
Thời tiết chuyển mùa, những đợt mưa phùn gió bấc khiến nhiều bệnh tật phát sinh. Cùng với các bệnh đường hô hấp, bệnh về xương khớp cũng gia tăng, đặc biệt đối với người cao tuổi. Thường hay gặp nhất là đau chân tay, đau bả vai, đau một bên cơ thể, đau nhức trong xương làm cho cơ thể chậm chạp, khó vận động, dáng người nhiều khi bị nghiêng lệch… Đau nhức làm ảnh hưởng đến thần kinh, cân cơ, bệnh nhân mất ngủ, chất lượng cuộc sống giảm sút.

Để phòng chống và khắc phục tình trạng này, xin giới thiệu một số bài thuốc hữu hiệu, thích ứng cho từng thể lâm sàng.

- Đau nhức khớp gối, đau nhiều về đêm, chân tay lạnh, da lạnh

Nguyên nhân do hàn thấp với tà khí xâm nhập mà gây nên bệnh.

Phép trị: Khu phong tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc sắc:

Bài 1:Nam tục đoạn 16g, rễ xấu hổ 20g, thổ phục linh 20g, kinh giới 16g, thạch xương bồ 12g, đậu đen (sao thơm) 24g, hà thủ ô 16g, đương quy 12g, huyết đằng 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày.

Bài 2:Ngải diệp phơi khô 16g, cỏ xước 16g, cây và lá cối xay 16g, thổ phục linh 20g, đơn hoa 16g, kinh giới 16g, bưởi bung 16g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, tang chi 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, rễ xấu hổ 16g, xa tiền 12g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm. đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày (uống nóng).

Thuốc chườm: Lá ngải diệp 1 nắm, củ thạch xương bồ giã dập 24g, hai thứ trộn vào nhau sao nóng, dùng miếng vải gói thuốc lại chườm vào chỗ đau. Thuốc nguội thì sao lại để chườm tiếp. Công dụng: ôn kinh tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc ngâm rượu: Rễ cỏ xước 20g, rễ xấu hổ 20g, rễ bưởi bung 20g, nam tục đoạn 20g, xuyên khung 20g, trần bì 12g, thủ ô chế 20g, kê huyết đằng 20g, tang chi 20g, đương quy 20g, táo nhân sao đen 20g, cam thảo 16g. Cho tất cả các vị cho vào bình sành, đổ ngập rượu để ngâm, sau 12 ngày là có thể dùng được. Ngày uống 50-60ml chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: khu phong tán hàn, chống viêm trừ thấp, thông hoạt kinh lạc.

- Đau vai gáy, đau lan xuống một bên cánh tay, sờ vào da thấy lạnh, cơ ở vùng cổ bị co cứng, quay đầu rất khó kahăn, toàn thân mệt mỏi, kém vận động. Chứng trạng này là do bị nhiễm lạnh, ảnh hưởng đến chức năng của kinh lạc, khí huyết trở trệ…

Bài thuốc:

Bài 1:Rễ cúc tần 16g, nam tục đoạn 16g, cẩu tích 12g, phòng phong 10g, kinh giới 12g, đỗ trọng 10g, tần giao 10g, đương quy 12g, rễ tất bát 12g, quế 10g, cam thảo 12g, sinh khương 3 lát. Cho các vị vào ấm, đổ nước 1 lít, sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Công dụng: ôn trung tán hàn, hoạt huyết thông mạch.

Bài 2:Ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, đơn hoa 12g, kinh giới 12g, thạch xương bồ 12g, hoa hồng bạch 5g, hà thủ ô chế 12g, cỏ xước 16g, rễ xấu hổ 16g, quế chi 10g, thổ phục linh 16g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, chích thảo 12g, lá lốt 12g, trần bì 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia 2-3 lần uống trong ngày. Công dụng: thông kinh hoạt lạc, tán hàn chỉ thống.

Trong khi dùng thuốc có thể kết hợp day bấm huyệt. Lần lượt day bấm vào các huyệt sau đây: thị huyệt, phong trì, hợp cốc, huyền trung. Bấm mỗi huyệt từ 5-7 phút, trong khi bấm nếu đến được đắc khí thì giữ cường độ lưu ngón tay lại, kéo dài thêm thời gian. Tác dụng: thông được kinh lạc, thông được dương khí, từ đó sẽ giảm đau rất nhanh.

- Đau ở gót chân: đau nhức buốt trong gót chân, càng giá lạnh càng đau tăng, nhìn bên ngoài không thấy sưng, bàn chân và cẳng chân lạnh. Bàn chân có cảm giác tê bì, đi lại khó khăn. Toàn thân mệt mỏi, ăn ngủ kém, ngại vận động.

Nguyên tắc điều trị: Tán hàn, trừ thấp, giảm đau, thông kinh lạc

Bài thuốc:

Bài 1: Cẩu tích 12g, bưởi bung 16g, đơn hoa 16g, thổ phục linh 20g, xấu hổ 16g, kinh giới 16g, tang kí sinh 16g, đẳng sâm 12g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, xa tiền 12g, lá tre 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nam tục đoạn 16g, hà thủ ô chế 16g, ngưu tất 16g, cà gai leo 12g, rễ cúc tần 12g, thổ phục linh 16g, củ giềng 12g, rễ lá lốt 12g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 4g, chích thảo 12g, hương nhu trắng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ngoài ra có thể dùng bài thuốc đắp: Vỏ cây gạo 1 nắm, cạo bỏ vỏ thô bên ngoài, sau đó cho vào cối đá giã nhỏ, trộn thêm đồng tiện vào, xào nóng để nguội bớt rồi đắp vào gót chân băng lại. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. 

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Phụ nữ dễ mắc bệnh thoái hóa khớp

0 nhận xét
Thoái hóa khớp thường xảy ra ở người cao tuổi, nhưng hiện nay quá trình thoái hoá khớp lại  trẻ hóa, thường bắt đầu từ khá sớm và hay xảy ra ở phụ nữ.

Theo giới chuyên môn, từ tuổi ngoài 30 lượng xương của phụ nữ đã dần dần thoái hóa, khi đến thời kỳ mãn kinh thì bệnh thoái hóa khớp tiến triển rất nhanh và nếu không được chăm sóc kịp thời thì sẽ dẫn tới nhiều bệnh về xương, trong đó có thoái hoá khớp.

Thoái hoá khớp thường tấn công người già và phụ nữ, khiến cho bệnh nhân bị hạn chế cử động khớp, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế. Tuy nguy cơ tử vong không như cao huyết áp và tiểu đường nhưng thoái hoá khớp ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân.

Thoái hoá khớp không phải của riêng người lớn tuổi, khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 tuổi và 85% người trên 80 tuổi có nguy cơ bị mắc bệnh. Trong đó, khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ.

Theo TS. BS. Nguyễn Thị Mai Hồng, Phó trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai, nữ giới hay mắc bệnh thoái hoá khớp nhiều hơn nam giới, điều này có thể do phụ nữ thường làm công việc nội trợ nhiều hơn nam giới. Đặc biệt là nữ giới hay bị thoái hoá khớp gối và thường hay gặp sau lứa tuổi mãn kinh. Ngoài ra bệnh có thể gặp ở các khớp ngón tay, nhất là ngón tay cái.

Thoái hoá khớp ở nữ giới thường xảy ra đau và làm hạn chế vận động, khớp thường có tiếng kêu lục khục khi cử động do lượng acid uric trong ổ khớp giảm và các đầu xương cọ sát vào nhau. Dấu hiệu thường thấy nữa của bệnh là người bệnh thường thấy cứng khớp vào buổi sáng dưới 30 phút. Ngoài ra, còn có teo cơ nếu bệnh nhân hạn chế vận động kéo dài và thường bệnh nhân rất khó khăn trong việc lên xuống cầu thang hoặc làm các vận động hàng ngày.

Thoái hoá khớp ở phụ nữ không có nguyên nhân rõ rệt. Các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa bao gồm tuổi tác, tình trạng béo phì, chấn thương nhẹ và mãn tính ở khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy trong quá trình lão hóa chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thoái hoá khớp thường tiến triển chậm, khi bị thoái hoá khớp mà không phát hiện sớm để điều trị thì rất dễ dẫn đến tình trạng biến dạng khớp, làm hạn chế vận động và đôi khi làm cứng khớp.

Với nữ giới bị béo phì thường xảy ra thoái hoá khớp, vì vậy cần có chế độ giảm cân. Ngoài ra, chế độ ăn uống cần tránh các thức ăn chứa nhiều mỡ, tăng cường chế độ ăn uống có nhiều canxi và chất chống ôxy hóa. Nếu bệnh nhân có đau có thể dùng thuốc chống viêm, giảm đau từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng theo chỉ định của bác sỹ. Bên cạnh đó, cần có chế độ thể thao hợp lý như đi bộ, tuy nhiên, đối với bệnh nhân đang ở giai đoạn đau khớp thì không nên đi bộ nhiều.

Để phòng tránh thoái hoá khớp thì ngay từ lúc tuổi ngoài 40 nên có chế độ sinh hoạt và luyện tập nhẹ nhàng, đều đặn hàng ngày như: chơi thể thao, đi bộ, hạn chế mang vác nặng, làm các động tác quá sức. Đối với người cao tuổi cũng cần tập luyện nhẹ nhàng tuỳ theo sức mình và hoàn cảnh riêng. Khi có dấu hiệu nghi ngờ về khớp cần đi khám bác sỹ ngay để được tư vấn đầy đủ. Nên đi khám bệnh định kỳ để biết tình trạng sức khoẻ và biết cách phòng tránh bệnh.

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Chế biến hạt gấc chữa bệnh viêm khớp

0 nhận xét
Như chúng ta đã từng biết, mật gấu là vị thuốc vô cùng hiếm, dùng trị chấn thương, đau nhức do bị tích tụ huyết, người kiệt sức, suy tim mạch, suy thận…

Tuy nhiên, mật gấu thiên nhiên không dễ dàng mà có được, nuôi gấu lấy mật cũng rất tốn kém và nguy hiểm. Dưới đây, xin được giới thiệu tới bạn đọc bài thuốc quý từ cây gấc của dòng họ Lý, dân tộc Sán Dìu (huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên).

Gấc thuộc loại dây leo, lá và dây màu xanh đậm. Hạt gấc chữa trị nhiều bệnh có giá trị hiệu quả cao, dễ tìm, dễ chế biến và dễ sử dụng, tác dụng dược tính hiệu nghiệm không kém mật gấu.

Hạt gấc (quả chín cây) màu xám sẫm, tròn hoặc từa tựa bánh xe răng cưa, vỏ cứng chọn lấy 30 đến 45 hạt đem rửa thật sạch, để ráo, nướng vàng một mặt, còn mặt kia nướng gần cháy lớp vỏ trên bếp tha củi. Sau đó, mang hạ thổ. Tiếp đến, bóc hết lớp vỏ, cho phần nhân vào cối, dùng chày giã nhỏ, gần nát (lưu ý không được dùng máy xay sinh tố để xay, vì như vậy sẽ làm mất hết công dụng của hạt gấc).

Đem tất cả cho vào bình thủy tinh (tuyệt đối không được sử dụng bình bằng nhựa), rồi dùng 1-2lít rượu gạo ngâm vào (rượu càng nặng, càng tốt). Ngâm khoảng 1 tháng rượu thuốc sẽ hóa đỏ bầm, mùi hơi hắc, vị chát đắng là có thể đem ra sử dụng (ngâm càng lâu, càng có tác dụng), chỉ xoa bóp chứ không được uống.

Công dụng: Chữa các bệnh như đau cơ, đau khớp, các vết đau bầm tím… Mỗi lần từ 5-10ml rượu, xoa bóp, chà xát đều vào vùng tổn thương.

Lưu ý: Không bôi lên các vết thương hở. Tác dụng sau nửa giờ. Ngoài ra có thể ngậm trong miệng chữa các bệnh như sâu răng, viêm họng, viêm nướu (lợi), chảy máu chân răng. Đặc biệt, chữa được bệnh quai bị (không phân biệt lứa tuổi), 4 hạt gấc rang cháy, tán nhuyễn, một phần cho vào 10ml nước, khuấy đều, chia làm 2 phần uống trong ngày, uống liên tục 5 ngày. Một phần dùng đắp lên vùng bị quai bị.

Tuyệt đối lưu ý: Hạt gấc có độc, không được uống.

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

Các phương pháp điều trị và phòng bệnh đau lưng

0 nhận xét
Đau lưng nhất là vùng thắt lưng là một bệnh kinh điển của loài người. Đau lưng sẽ đi theo bạn theo năm tháng nếu không có cách điều trị hiệu quả. Vậy có cách nào điều trị bệnh đau lưng không? và làm sao để phòng không bị đau lưng tái phát?

Dấu hiệu đau vùng thắt lưng

Vùng thắt lưng là vùng lưng dưới, bắt đầu từ dưới lồng ngực đến xương chậu. Đây là vùng dễ tổn thương nhất và hầu như tất cả loài người ai cũng từng bị những cơn đau thắt lưng hành hạ. Tuy nhiên những cơn đau thắt lưng thường ngày càng đỡ hơn và luôn có cách điều trị hiệu quả. Dấu hiệu của cơn đau thắt lưng gồm

- Đau lưng cấp tính xảy ra đột ngột, thường sau một chấn thương thể thao hoặc nâng vật nặng.
- Đau âm ỉ vùng 2 bên hông với cảm giác bị đâm, bắn sau lưng.
- Đau đột ngột, cấp tính làm bạn khó khăn khi đi lại hoặc đứng thẳng.
- Đau thắt lưng khó xác định vị trí, đau lan toả đi kèm với co cứng khối cơ chung thắt lưng, đau sâu trong ổ bụng thường do các căn nguyên nội tạng ở trong ổ bụng hoặc trong hố chậu.
- Lúc đầu đau một bên hông sau đó đau lan xuống mông, đùi và cẳng chân
- Đau kiểu rễ lan xuống chân chứng tỏ có chèn ép hoặc tổn thương các rễ thần kinh vùng thắt lưng
- Cơn đau kéo dài hơn ba tháng là đau lưng mãn tính. Nếu cơn đau của bạn không có dấu hiệu giảm trong vòng 3 ngày bạn nên thăm khám ​​bác sĩ.

Khi nào cần đến gặp bác sỹ

Khi gặp những dâu hiệu sau bạn nên đi gặp bác sỹ để thăm khám tình trạng bệnh:
- Cơn đau thắt lưng lan đến chân
- Có cảm giác tê, kim châm hay đau nhói ở chân
- Có cảm giác yếu chân và không thể đứng dậy trên bàn chân
- Mất kiểm soát tiêu tiểu (thường gặp ở các chứng đau lưng nặng)
Bạn cần đi khám bác sĩ chuyên khoa cột sống hoặc khoa khớp để được hướng dẫn điều trị một cách đúng đắn.

1. Chăm sóc vùng lưng bị đau:

Khi mang vác vật nặng không đúng tư thế lưng sẽ bị đau do căng cơ, thường sẽ tự phục hồi, nhưng bạn có thể lấy một miếng đệm nóng chườm phần lưng đau hoặc tắm nước ấm có thể làm giảm cơn đau tạm thời. Tuy nhiên đôi khi đau lưng có thể liên quan đến các đĩa đệm bị lồi ra hoặc vỡ. Nếu một đĩa đệm phồng lên hoặc vỡ, ép trên dây thần kinh tọa, cơn đau có thể chạy từ mông xuống một bên chân. Cơn đau này được gọi là đau thần kinh tọa.

Khi bị đau lưng do căng cơ bạn cũng không nên nằm một chỗ quá 1-2 ngày sẽ làm giảm tính linh hoạt của lưng, lưng sẽ càng đau nặng hơn.

2. Tập yoga:

Một phương pháp rất hiệu quả khi chữa đau bệnh đau lưng là tập yoga

Yoga là một phương pháp toàn diện tác động đến toàn bộ cơ thể để chống lại và điều trị đau lưng. Việc cải thiện sức mạnh của toàn bộ cơ thể là rất cần thiết vì đau lưng không chỉ gây ra bởi các vấn đề ở lưng mà còn các bộ phận khác như hông, chân.

Đối với những người mới bị đau lưng và căng cứng cơ lưng hoặc những ai muốn phòng ngừa chúng thì chương trình Yoga cho người mới là một chương trình an toàn và hiệu quả. Còn những người bị đau lưng mạn tính thì nên tham khảo ý kiến các chuyên gia bác sĩ trước khi theo chương trình Yoga nào và cần có sự hướng dẫn, giám sát của các huấn luyện viên Yoga có kinh nghiệm.

3. Xoa bóp quanh cột sống:

Phương pháp xoa bóp cột sống điều trị đau lưng bằng cách tạo áp lực lên bàn tay của họ đến xương và các mô xung quanh vùng lưng dưới. Còn xoa bóp giác hơi các chuyên gia sẽ dùng những chiếc cốc đã được hơ lửa để có thể hút và nâng các mô cơ vùng lưng

Một số chuyên gia khác lại sử dụng bộ chân không: đặt một chiếc cốc lên cơ thể rồi hút hết không khí bằng máy bơm rồi sau đó di chuyển chiếc cốc và thực hiện xoa bóp.

Tuy nhiên phương pháp xoa bóp cột sống chữa đau lưng này không phải ai cũng phù hợp, nó rất hiệu quả với những người bị đau lưng do căng cơ, co cơ nhưng nếu bệnh nhân có khối u nhiễm trùng và gãy xương thì không thể dùng phương pháp này

4. Massage trị liệu

Một số các nghiên cứu cho thấy massage có thể giúp giảm đau lưng mãn tính. Sau 10 tuần, những người massage hàng tuần ít đau và có khả năng đi lại và thực hiện các hoạt động hàng ngày tốt hơn so với những người chỉ chăm sóc kiểu truyền thống. Điều này đúng với mọi kiểu massage và lợi ích kéo dài ít nhất sáu tháng.

5. Châm cứu, bấm huyệt

Châm cứu là một phương pháp điều trị đã xuất hiện khá lâu bắt nguồn từ Trung Quốc, Thuật châm cứu sử dụng một chiếc kim nhỏ đâm vào một số phần của cơ thể để kích thích và điều khiển dòng năng lượng chảy khắp cơ thể.

Nguyên lý của thuật châm cứu là cây kim được sử dụng để tác động vào điểm kinh tuyến của cơ thể, nơi dòng năng lượng chảy qua. Vì thuật châm cứu chủ yếu để giải quyết các cơn đau lưng, rất nhiều bệnh nhân đau lưng rất bất ngờ khi được châm cứu vào phần khác của cơ thể chứ không phải lưng như chân hoặc cổ. Điều này là do năng lượng chảy từ bộ phận khác của cơ thể có tác động mạnh hơn lên các cơn đau lưng.

6. Dùng thuốc

Để giảm đau hoặc cắt đứt cơn đau tạm thời người ta hay dùng thuốc giảm đau như acetaminophen, ibuprofen, hay naproxen. Đối với cơn đau dữ dội hoặc đau mãn tính, bác sĩ có thể đề nghị thuốc theo toa. Ngoài ra sử dụng các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đau lưng có nguồn gốc thiên nhiên như Artrex cũng là một cách hiệu quả. Nhưng có một lưu ý là các dòng thuốc này rất hại dạ dày và thận, nên những bệnh nhân có tiền sử bệnh đau dạ dày, suy thận thì không được sử dụng các loại thuốc này.

Còn muốn điều trị dứt điểm bệnh đau lưng phải điều trị bằng thuốc Đông y, vì thuốc Đông y đi vào điều trị căn nguyên gây bệnh. Điều trị bằng thuốc Đông y sẽ cho hiệu quả lâu dài, tránh tái phát, nhưng không gây tác dụng phụ với dạ dày và thận.

7. Tiêm vào lưng

Nếu các phương pháp điều trị đơn giản và thuốc không giúp ích, bác sĩ có thể đề nghị tiêm vào lưng. Một lộ trình điều trị vào thứ được gọi là khối rễ thần kinh, nhắm vào các dây thần kinh bị kích thích. Tiêm cho bệnh đau lưng thường chứa thuốc steroid.

8. Vật lý trị liệu

Nếu đau lưng khiến bạn không thể hoạt động trong một thời gian dài, một chương trình phục hồi chức năng có thể giúp bạn tăng cường cơ bắp của bạn và giúp bạn trở lại hoạt động hàng ngày. Vật lý trị liệu có thể hướng dẫn bạn các bài tập căng dài cơ thể, các bài tập sức mạnh, bài tập cardio (bài tập thể hình tốt cho tim mạch) cường độ thấp sẽ giúp bạn gọn gàng mà không ảnh hưởng đến lưng.

9. Tập các bài tập giúp tăng cường lưng

Hãy áp dụng những bài tập thể dục phù hợp cho lưng của bạn, có thể dùng các bài tập gấp và kéo dài người. Trong bài tập gấp, bạn cúi về phía trước để căng các cơ bắp của lưng và hông.

Trong bài tập kéo dài, bạn uốn cong lưng về phía sau để phát triển các cơ bắp hỗ trợ cột sống. Một ví dụ là nâng chân trong khi dựa trên phần dạ dày của bạn. Nếu bạn bị đau lưng, hãy nhờ bác sỹ tư vấn dùng các bài tập an toàn cho bạn.

10. Phẫu thuật :

Khi mức độ đau lưng của bạn đã kéo dài trầm trọng, bạn không thể đứng lên đi lại hoặc làm bất kỳ công việc gì ảnh hưởng đến học tập và làm việc thì chỉ còn cách là phẫu thuật. Tùy thuộc vào nguyên nhân đau lưng do thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, viêm cột sống dính khớp, hay gai vôi cột sống…bác sỹ sẽ phẫu thuật để phục hồi chức năng lưng này.

Phòng ngừa đau lưng như thế nào?

Không có phương pháp nào chắc chắn bạn sẽ không bị đau lưng khi đến tuổi trung niên. Tuy nhiên ngay từ bây giờ nếu bạn giữ một chế độ ăn uống cũng như luyện tập khoa học thì nguy cơ bị đau lưng của bạn cũng giảm đi đáng kể. Phòng bệnh đau lưng có thể áp dụng các phương pháp sau:

- Duy trì một chế độ tập luyện và ăn uống phù hợp
- Nâng vật nặng bằng chân, không nâng bằng lưng.
- Tránh để tình trạng tăng cân, béo phì
- Hãy chắc chắn rằng vị trí làm việc của bạn không góp phần tạo nên cơn đau cho bạn.
- Duy trì và thực hiện tư thế chính xác nhất là trong nâng, bê, nhặt vật nặng.
- Tránh một cách tối đa các hoạt động ảnh hưởng tới lưng.
- Tập thể dục thường xuyên như bơi lội, đi bộ nên ít nhất cũng đi bộ mỗi ngày.
- Luôn giữ cột sống thẳng, nên sử dụng các dụng cụ hỗ trợ nếu cần thiết.
- Không ngồi hoặc đứng quá lâu.

Điều trị đau lưng cần thường xuyên và liên tục mới có thể giúp giải quyết giảm đau lưng một cách hiệu quả, Phòng bệnh đau lưng để không mắc các bệnh xương khớp khác như thoái hóa cột sống hay thoát vị đĩa đệm và cải thiện sức khỏe, chất lượng cuộc sống để bệnh tránh tái phát sau này. Hãy luôn nhớ rằng ” phòng bệnh hơn chữa bệnh “, nếu bạn may mắn chưa bị đau lưng hoặc cảm thấy mình có nguy cơ bị đau lưng thì tốt nhất là thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng tránh.

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Viêm khớp triệu chứng và điều trị

0 nhận xét

Triệu chứng bệnh viêm khớp


Một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm đau trong viêm khớp là giảm cân.

Hệ thống xương khớp của con người tuyệt vời đến mức chưa một người máy nào có thể bắt chước hoàn hảo. Các thao tác, cử chỉ từ nhẹ nhàng đến mạnh mẽ đều có sự tham gia của các ổ khớp. Khi ổ khớp bị viêm, các hoạt động của chúng giảm tầm hoạt động, gây cứng khớp. Biết rõ các tiến trình bệnh lý này giúp chúng ta tìm ra biện pháp phòng ngừa và điều trị hữu hiệu.

Khớp gồm nhiều thành phần khác nhau: sụn khớp, bao hoạt dịch, dây chằng, cơ và gân cơ. Sụn khớp hay đầu xương bị tổn thương sẽ gây tăng ma sát hai đầu xương, dẫn đến tiến trình viêm. Viêm khớp còn do chấn thương, sử dụng quá mức ổ khớp, do bệnh lý hoặc do tuổi già (lão hoá). Hiện tượng viêm từ mức độ vi tế sẽ trở nên thấy được với những triệu chứng: sưng, đỏ, nóng, đau, cứng khớp và giới hạn biên độ hoạt động. Càng bị đau, bệnh nhân càng có khuynh hướng giới hạn cử động, cơ càng bị co rút dẫn đến cứng khớp; và vòng lẩn quẩn khiến viêm khớp nặng hơn!
Triệu chứng báo hiệu

Đầu tiên là cảm giác đau khi ấn vào khớp. Không thể gập hay duỗi khớp một cách bình thường. Đau khớp tự phát: hoặc đau các khớp lớn như khớp gối, khớp vai, khớp cổ chân... hoặc đau những khớp nhỏ như khớp bàn tay – ngón tay, khớp liên đốt ngón tay... Cơn đau gia tăng khi khớp chịu lực hay gập duỗi. Tiếng lạo xạo, cót két phát ra khi cử động khớp. Yếu cơ quanh ổ khớp.

Để chẩn đoán viêm khớp, phải dựa trên sự thăm khám kỹ lưỡng và đánh giá lâm sàng tỉ mỉ qua tổng hợp các triệu chứng. Các xét nghiệm chuyên biệt giúp sự chẩn đoán chính xác hơn. Hình ảnh X-quang chỉ thấy rõ khi tổn thương quá nặng. Vì thế, chẩn đoán sớm các bệnh lý viêm khớp rất quan trọng. Bệnh nhân cần cung cấp đầy đủ thông tin về triệu chứng, bệnh sử, tiền căn gia đình, danh sách thuốc đã sử dụng... Người thân đi theo cũng cần cung cấp thêm thông tin bệnh tật và chia sẻ với bệnh nhân những khó khăn về cả tâm lý lẫn thể chất, ghi nhớ lời dặn dò của bác sĩ. Bác sĩ điều trị dựa vào sự khảo sát lâm sàng tỉ mỉ, đánh giá tình trạng khớp, mức độ tổn thương khớp, chẩn đoán loại bệnh lý viêm khớp... từ đó sẽ quyết định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng như X-quang, xét nghiệm chuyên biệt cho viêm khớp dạng thấp, viêm khớp do thống phong, viêm dính cột sống, nhiễm trùng... Cuối cùng, bác sĩ cùng bệnh nhân vạch ra kế hoạch điều trị. Khác với nước ngoài, bệnh nhân nước ta thường để các bác sĩ quyết định hoàn toàn.

Một số loại viêm khớp thường gặp

Có hàng trăm bệnh lý viêm khớp nhưng thường thấy là các loại sau: thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp thiếu nhi, nhiễm trùng khớp do vi trùng sinh mủ, nhiễm trùng khớp do lao...
Thoái hoá khớp: hay viêm khớp thoái hoá có thể ảnh hưởng bất cứ khớp. Tuy nhiên thoái hoá khớp lớn thường gặp hơn, nhất là những khớp chịu lực nhiều như khớp gối, khớp háng và khớp cổ chân. Nguyên nhân: do lạm dụng sức chịu đựng khớp, do chấn thương, lão hoá, mập phì, tật bẩm sinh, bệnh thống phong, tiểu đường, các bệnh lý nội tiết... Đa số thoái hoá khớp không rõ nguyên nhân liên quan đến sự lão hoá. Thoái hoá khớp không ảnh hưởng một cách hệ thống đến cơ thể như các bệnh viêm khớp khác. Triệu chứng thay đổi tuỳ từng bệnh nhân, thường thấy nhất là đau một ổ khớp hay nhiều khớp khi hoạt động quá mức và bớt khi nghỉ ngơi hay tập nhẹ nhàng. Cứng khớp hay giới hạn cử động khớp thường xảy ra vào buổi sáng, bớt khi tập luyện cử động nhẹ nhàng vài lần trong ngày.

Viêm khớp ảnh hưởng đến vài trăm triệu người trên khắp thế giới. Hiểu rõ và sống chung với viêm khớp, nhất là các loại bệnh viêm khớp mạn tính là một thái độ tích cực góp phần gia tăng chất lượng cuộc sống của chính bệnh nhân.

Viêm khớp dạng thấp: là bệnh mạn tính thường thấy ở Việt Nam, số bệnh nhân nữ nhiều gấp hai, ba lần nam giới. Viêm khớp tiến triển chậm dần theo tuổi tác nhưng gây tỷ lệ tàn tật và tử vong cao. Đây là bệnh tự miễn, do cơ thể tiết ra các chất tấn công bao khớp, xâm nhập và phá huỷ ổ khớp. Nguyên nhân viêm khớp dạng thấp chưa rõ, nhưng yếu tố di truyền được xem có vai trò quan trọng. Tuổi mắc bệnh thường là trung niên nhưng vẫn có thể xảy ra ở tuổi 20 – 30. Nếu không điều trị, bệnh có thể ảnh hưởng các cơ quan khác một cách có hệ thống. Triệu chứng thường là sưng đau, ấn đau, giới hạn cử động hay cứng khớp. Các khớp thường gặp là bàn – ngón tay, các lóng tay, cổ tay, cổ chân, bàn – ngón chân. Sáng ra bệnh nhân thường có cảm giác cứng, khó cử động bàn – ngón tay hay ngón chân trong nhiều giờ, càng vận động càng bớt cứng. Bệnh nhân cũng thấy tê các đầu ngón tay và ngón chân, nhất là về đêm hay vừa ngủ dậy. Triệu chứng viêm khớp thường có tính đối xứng. Bệnh nhân còn thấy chán ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ... Diễn biến lâu năm, các biến dạng khớp tiến triển dần do tổn thương nặng xương – sụn; xương kêu lạo xạo khi cử động; xuất hiện các nốt thấp dưới da quanh các khớp chịu lực.

Viêm khớp thiếu nhi: phần lớn nguyên nhân không được biết rõ. Đây không phải là bệnh lây lan, cũng không phải do những yếu tố như thức ăn, chất độc, sinh tố, dị ứng... Cũng không chắc có yếu tố di truyền. Nhiều triệu chứng bệnh giống viêm khớp dạng thấp người lớn. Khi bệnh tiến triển lâu, xương sụn khớp bị tổn thương nặng có thể gây biến dạng khớp, khó cử động và ảnh hưởng lên sự tăng trưởng xương khớp. Một số cháu có triệu chứng một thời gian rồi khỏi hẳn, một số cháu sẽ không khỏi nếu không được chữa trị.

Điều trị

Mục tiêu chính của điều trị là giảm đau, gia tăng tầm độ hoạt động khớp, cải thiện sức chịu lực của khớp và sức cơ quanh ổ khớp, phòng ngừa bệnh tiến triển nặng gây biến dạng khớp. Mục tiêu đề ra còn tuỳ thuộc yêu cầu của từng bệnh nhân.

Có nhiều chọn lựa trong phương pháp điều trị, hoặc riêng rẽ hoặc phối hợp: điều trị bảo tồn (nằm nghỉ, thuốc men, tập luyện nhẹ nhàng, giảm trọng lượng, vận động trị liệu hay hướng nghiệp trị liệu…), phẫu thuật. Kế hoạch điều trị cần kết hợp các biện pháp khác: thay đổi thói quen sinh hoạt để cải thiện toàn diện sức khoẻ, tập luyện hàng ngày; sử dụng thuốc…

Một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm đau trong viêm khớp là giảm cân. Mập quá cơ thể sẽ tăng lực chịu đựng lên các khớp, đặc biệt với những bệnh nhân thoái hoá khớp. Vì vậy cần thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, giữ trọng lượng lý tưởng, giúp khớp viêm tránh tổn thương thêm. Bỏ thuốc lá cũng là một yêu cầu đối với bệnh nhân viêm khớp. Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ tăng bệnh viêm khớp dạng thấp gấp hai lần người khác.



Tập luyện là một bước quan trọng giúp duy trì chất lượng cuộc sống tốt hơn để có thể “sống chung” với viêm khớp. Cần tôn trọng nguyên tắc “tập không đau”. Các bài tập tuỳ theo từng khớp đau. Bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ hay kỹ thuật viên phục hồi chức năng về nội dung tập luyện. Chỉ nên tự tập khi đã có sự hướng dẫn và quen với các thao tác tập. Các trợ cụ tập có thể hữu ích dưới sự hướng dẫn chuyên môn.

Bài đăng phổ biến

 

Bài thuốc nam trị đau nhức xương khớp an toàn và hiệu quả. Copyright 2008